Chuyển tải những giá trị đích thực 

            của cao su đến cuộc sống bằng những sản phẩm mang tính sáng tạo

Từ chuyện con tôm, lo cho mặt hàng cao su

Mới đây, Trung Quốc thông báo tạm dừng nhập khẩu mặt hàng tươi sống của Việt Nam, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam qua thị trường này chết đứng. Sự kiện này khiến chúng ta không khỏi giựt mình lo cho mặt hàng cao su của Việt Nam bao nhiêu năm nay phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nếu bỗng dưng một ngày nào đó phía TQ thông báo tạm ngừng NK mặt hàng cao su từ VN. Dù chỉ là tình huống giả định nhưng đó là sự cảnh báo mà các doanh nghiệp XK cao su của VN không thể thờ ơ.

XK cao su sang TQ đang giảm: mừng hay lo?

Trong nhiều năm qua, TQ luôn là thị trường tiêu thụ mặt hàng cao su lớn nhất VN, với tỷ lệ trên 65% (riêng với các đơn vị thuộc VRG, tỷ lệ này chiếm khoảng hơn 30% tổng sản lượng, chũ yếu là các đơn vị ở khu vực Tây Nguyên và miền Trung.

Đơn cử như 2011, theo sớ liệu của Tổng Cục Hải Quan, TQ nhập của Vn 501,571 tấn cao su, chiếm tới 61% trong tổng số 816.577 tấn cao su của VN XK sang tất cả các thị trường. Đa phần lượng cao su VN XK qua TQ là theo hình thức bán hàng chuyến qua đường tiểu ngạch tại các cửa khẩu biên giới ở phía Bắc như Móng Cái - Đông Hưng, La Phù - Lục Cẩm...

Đáng chú ý là từ đầu năm đến nay, lượng cao su VN XK qua TQ có xu hướng giảm. Cụ thể 3 tháng đầu 2012, lượng cao su XK sang TQ thông qua các cửa khẩu của khu kinh tế cửa khầu Móng Cái chỉ đạt 6.384 tấn, trong khi bình quân mỗi tháng 2011, các doanh nghiệp VN XK cao su qua cửa khẩu này lên đến 4.528 tấn.

Tính chung 8/2012, VN XK qua TQ 302.796 tấn cao su, tương đương 49,7% tổng lượng cao su XK. Tỷ lệ này giảm còn 48,7% trong tháng 9/2012, tương đương 350,220 tấn và giảm tiếp còn (47,4%) 387.000 tấn tính cả tháng 10/2012. Như vậy, dù TQ vẫn là  thị trường tiêu thụ cao su của VN lớn nhất nhưng đã giảm thị phần còn dưới 50% trong tháng 10/2012, trong khi tỷ lệ của tháng 10/2011 là 61,4%.

Khi quyền chủ động chèn ép thuộc về phía mua.

Việc tỷ lệ XK cao su của VN qua TQ giảm cho thấy các doanh nghiệp Vn đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường XK và bớt phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới này. Tuy nhiên, phân tích kỹ các nguyên nhân lại chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại: lượng coa su VN XK qua TQ giảm là do phía TQ chủ động giảm nhập hơn là do phía VN giảm xuất. Đáng chú ý hơn, các chính sách giảm nhập của phía TQ thường đưa ra trong bối cảnh giá cao su giảm, qua đó gây sức ép lên phía bán và sự mặc cả thường có lợi cho phía mua. Điều này càng bất lợi hơn cho các doanh nghiệp VN, khi hầu hết các doanh nghiệp chưa có kho bãi dự trữ cao su tại khu vực biên giới.

Qua tiềm hiểu, chúng tôi được biết, phía TQ thường chú ý tăng cường các biện pháp kiểm soát hoạt động NK cao su mậu biên khi cao su vào vụ khai thác, sản lượng cao, phía sản xuất cần bán hàng. Mà ai cũng biết, khi chính phủ TQ cho mở cửa khẩu thì sẽ có nhiều thương nhân TQ mua mủ, nhu cầu tăng làm tăng giá. Muốn gí giảm chỉ còn cách bớt mua lại và biện pháp tăng cường thanh kiểm tra nhanh, hạn chế cấp phép mà hải quan TQ đang làm hiện nay được coi là hiệu quả nhất.

Đơn cử, thời điểm cuối tháng 8/2012, có tới hàng ngàn container hàng hóa bị ùn tắc tại các khu vực cửa khẩu Móng Cái khi các cơ quan quản lý TQ tăng cường các biện pháp kiểm soát, kiểm dịch và áp đặt hạn ngạch. Ngay lập tức, XK cao su tiểu ngạch tại cửa khẩu Móng Cái rơi vào ách tắc, các giao dịch rất trầm lắng, giá cao su giảm mạnh. Để tránh tình trạng ùn ứ cao su tại Móng Cái, nhiều doanh nghiệp VN đã chở hàng sang một số cửa khẩu khác để bán như Chi Ma (Lạng Sơn), Bát Xát (Lào Cai), Tà Lùng (Cao Bằng). Tuy nhiên, rủi ro giao dịch ở các cửa khẩu này khá lớn vì đường sá không thuận lợi, việc mua bán thiếu chuyên nghiệp…

Trên thực tế, đó không phải là lần đầu phía TQ đưa ra những chính sách siết NK ở mậu biên, đặc biệt là đối với hình thức buôn bán qua đường tiểu ngạch. Biện pháp này khiến các doanh nghiệp XK cao su của VN “no đòn” nhưng có vẻ như họ vẫn chưa thuộc bài học: Biết rồi – khổ lắm – nói mãi!

Tự vạch lối đi cho mình

Có một thực tế không thể phủ nhận là TQ đã, đang và sẽ tiếp tục là thị trường cao su chủ chốt của VN, nhất là khi các khách hàng ở TQ không đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm cao su. Tuy nhiên, như đã phản ánh ở trên, để tự lo cho mình, các doanh nghiệp VN không thể mãi phụ thuộc vào thị trường này và vẫn sử dụng hình thức bàn hàng chuyển qua đường tiểu ngạch. Các bán hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro và phần thiệt luôn đồn về các doanh nghiệp VN. vấn đề mấu chốt là các doanh nghiệp VN phải tiến tới XK cao su qua TQ bằng đường chính ngạch với những đối tác uy tín, đáng tin cậy.

Trong ngắn hạn, theo dự báo, nhu cầu tiêu thụ cao su của TQ sẽ giảm do tăng trưởng kinh tế của nước đông dân nhất thế giới này không đạt như kỳ vọng, từ mức 8,6% xuống còn 7,7% trong năm 2012 và khoảng 8% trong năm 2013.

Về lâu dài, bản thân các nhà hoạch định của TQ và các doanh nghiệp nước này cũng đang có những động thái chủ động hơn trong việc tìm nguồn nguyện liệu cao su từ các thị trường khác. Cụ thể như vào tháng 4 năm nay, tại Diễn đàn chiến lược hợp tác kinh tế của ba dòng sông Ayeyawady – Chao Phraya – Mekong, TQ đã ký  một thỏa thuận có thời hạn 11 năm, cam kết sẽ mua 500.000 tấn cao su tấm và cao su xông khói của 4 nước Camphuchia, Lào, Myanmar và thái Lan.

Dài hạn hơn, các doanh nghiệp TQ với sự hậu thuẫn mạnh của Chính phủ nước này, đang đẩy mạnh thuê đất trồng cao su ở Myanmar, Lào, Campuchia và cả ở một số nước Châu Phi. Những năm tới, khi hàng ngàn hecta coa su trồng ở nước ngoài đưa vào thu hoạch, TQ sẽ tăng nguồn cung cấp đáng kể cho nhu cầu tiêu thụ cao su nội địa, cũng có nghĩa tỷ trọng NK cao su sẽ thu hẹp lại.

Xem ra, việc tăng cường XK cao su qua TQ bằng con đường chính ngạch; đa dạng hóa thị trường và tìm kiếm khách hàng ở những thị trường khác, nâng cao hàm lượng chế biến nhằm hạn chế tình trạng XK nguyên liệu thô..., là những giải pháp cần thiết và cấp thiết để xây dựng ngành cao su VN phát triển bền vững.